Huyền thoại cuối cùng của Bầu Cải lương đất Sài Gòn đã ra đi

Ông Bầu Xuân, chủ công ty Cải lương – Phim ảnh Dạ Lý Hương lừng danh một thời đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 3 giờ 56 phút sáng 21 tháng 6, để lại nỗi tiếc thương vô hạn trong lòng giới nghệ sĩ và khán giả yêu cải lương.

Có những người mà trong cuộc đời họ không hề nghĩ đến nghề ca hát, cũng không hề đi coi cải lương, vậy mà về sau họ lại là những người có công lớn đối với cải lương, đóng góp một cách thiết thực cho bộ môn nghệ thuật sân khấu. Do tình thế đưa đẩy họ đứng ra làm bầu gánh cải lương, mà lại là đoàn hát lớn, danh tiếng lẫy lừng, và ông Bầu Xuân là một trong những nhân vật ấy.

Ông Bầu Xuân tên thật là Diệp Nam Thắng, sinh năm 1927 tại Sài Gòn. Ông là người sinh trưởng ở Bình Trị Đông gần Chợ Lớn, thuở nhỏ học ở trường Phú Lâm, nhà nghèo vừa đi học vừa đội bánh bò đi bán. Rồi thì thời gian sau thân phụ ông kinh doanh dầu ở Chợ Lớn trở nên phát đạt nên đã gởi Bầu Xuân sang Hồng Kông học chữ Anh và chữ Trung Hoa đến hết trình độ trung học. Năm 1958, ông được 24 tuổi, trở về nước được cha cho theo tàu chở hàng buôn đường Sài Gòn, Nam Vang. Hai năm sau ông trở về Sài Gòn thành lập công ty xuất nhập cảng Nam Hiệp Công Thương ở đường Thái Lập Thành, sau dời về đường Nguyễn Công Trứ. Đồng thời ông cũng là nhà thầu xây dựng và chủ nhân hãng giấy Kiss Me.

Là người làm ăn nhưng ông Bầu Xuân có rất nhiều bạn là những người hoạt động trong giới cải lương.

 

Năm 1962, khi đoàn cải lương Hoa Thủy Tiên của Bầu Hiếu rã gánh, ông Bầu Xuân đã ra tay giúp đỡ.

Hãng thầu của Bầu Xuân có một nhà kho trên mảnh đất một mẫu ở Tham Lương, ngang hãng dệt Vinatexco. Lúc bấy giờ Bầu Hiếu cùng đoàn Hoa Thủy Tiên rã gánh tại Bà Quẹo. Bầu Hiếu năn nỉ Bầu Xuân cho anh chị em đoàn hát dọn vào nhà kho ở tạm. Bầu Xuân bằng lòng và còn cung cấp gạo, tiền để nghệ sĩ sống tạm qua ngày.

Mấy tháng sau, soạn giả Bạch Diệp, Minh Nguyên của đoàn gặp Bầu Xuân đề nghị ông bỏ ra số tiền lập lại đoàn hát, để anh chị em nghệ sĩ có dịp hành nghề sinh sống, tốt hơn là cứ nuôi mãi thì biết bao nhiêu tiền cho đủ. Bầu Xuân bằng lòng và bắt đầu làm bầu cải lương từ tháng 6 năm 1962. Trước tiên ông bỏ ra 300 ngàn đồng thành lập đoàn Hoa Mùa Xuân, khai trương vở Tiếng chuông chùa Xá Lợi của Bạch Diệp Minh Nguyên tại rạp Thuận Hóa, Sóc Trăng. Đoàn lưu diễn lần về Sài Gòn qua Vĩnh Long, Mỹ Tho đều thất bại, hết vốn 300 ngàn đồng. Bầu Xuân làm lại đoàn Hoa Mùa Xuân đợt mới với cặp nghệ sĩ Tấn Tài và Như Ngọc diễn vở Lòng Mẹ của Thiếu Linh và rồi cũng thất bại tiếp.

Lúc bấy giờ nơi công ty hãng thầu nhiều người phản ứng yêu cầu Bầu Xuân nghỉ không làm đoàn hát nữa, vì như thế ông mất nhiều thì giờ làm thiệt hại cho hãng thầu; hãy xem hai lần thất bại như là đánh bài thua một canh bạc thế thôi. Về vấn đề này Bầu Xuân cảm thấy buồn và tự ái. Buồn vì cả đoàn hát anh chị em nghệ sĩ thất nghiệp đang kỳ vọng nơi ông. Tự ái vì ông là người hoạt động thành công nổi tiếng ở thương trường mà không làm thành công được một đoàn hát hay sao?

Sau hai lần làm bầu cải lương đã có kinh nghiệm, Bầu Xuân có ý muốn đổi mới sân khấu cải lương nên đã mời nghệ sĩ Năm Châu, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Thiếu Linh họp bàn, đi đến quyết định thành lập đoàn Dạ Lý Hương. Bàn cách xóa bỏ lề lối phong kiến lâu đời ở đoàn hát, người nghệ sĩ được tôn trọng đúng mức và không phải khúm núm đối với bầu. Tất cả thành viên đoàn hát đều ký hợp đồng với số tiền tùy theo tên tuổi của nghệ sĩ và sự thỏa thuận của đôi bên. Khi mãn hợp đồng được tặng luôn số tiền, còn bỏ đoàn ngang thì bồi thường đúng số tiền hợp đồng đã ký; bỏ ngang đêm hát phải bồi thường cả xuất hát.

Và đoàn Dạ Lý Hương của Bầu Xuân được thành lập với số vốn được bỏ ra ban đầu là 3 triệu đồng. Với một doanh nhân thành đạt như ông, số vốn lớn đó vẫn là “chuyện nhỏ”.

Đoàn Dạ Lý Hương ra đời năm 1963 là một đại ban vững mạnh. Giám đốc là Bầu Xuân, phó giám đốc đoàn là ông Nguyễn Văn Hiếu, giám đốc nghệ thuật là nghệ sĩ Ba Vân, đài trưởng là đạo diễn Hoàng Việt. Soạn giả thường trực: Thiếu Linh, Hà Triều, Hoa Phượng. Coi như mãi đến lần thứ ba thành lập đoàn hát Bầu Xuân mới thành công và từ năm 1964, đoàn Dạ Lý Hương đã là một trong năm đoàn số một thời bấy giờ với rất nhiều ngôi sao cộng tác như: Út Trà Ôn, Ngọc Bích, Hoàng Giang, Văn Chung, Bạch Tuyết, Hùng Cường. Đoàn cho ra đời những kịch bản xã hội ăn khách như: Tuyệt Tình Ca (ông cò Quận 9), Nỗi buồn con gái, Thảm kịch tuổi xanh, Trường kịch 20 năm, Lấy chồng xứ lạ,

Thanh Sang nổi tiếng cũng nhờ ở đoàn hát này. Đi hát từ năm lên 17 tuổi (gánh cải lương Ngọc Kiều) đến năm 1964, Thanh Sang mới có dịp phát huy tài năng của mình khi về cộng tác với Đoàn cải lương Dạ Lý Hương của bầu Xuân và cũng chính trong năm 1964, Thanh Sang đã đoạt giải Thanh Tâm (cùng đợt với NSND Lệ Thủy) qua vai Kim mao sư vương Tạ Tốn (Cô gái Đồ Long), một vai phụ nhưng lại đòi hỏi ở người diễn sự sáng tạo, đầu tư hết mình cho vai diễn.

Từ năm 1968, cải lương khủng hoảng, xuống dốc trầm trọng, nhiều đoàn hát rã gánh, đoàn nào còn sống cũng tình trạng ngất ngư, một đêm hát vài ba đêm nghỉ. Dĩ nhiên đoàn Dạ Lý Hương cũng không tránh khỏi tình trạng bấp bênh. Tuy vậy nhờ có vốn nhiều, đoàn cũng sống cầm chừng chớ không cho rã gánh.

Khoảng giữa năm 1971, Hùng Cường vì không thỏa mãn điều kiện giao kèo nên rời đoàn.

Đoàn Dạ Lý Hương tạo được địa vị đại ban không đối thủ, phần lớn là nhờ tuồng xã hội với cặp “sóng thần” Hùng Cường và Bạch Tuyết. Nay Hùng Cường đã rời khỏi sân khấu và thiếu tuồng xã hội giá trị, nên ban giám đốc Dạ Lý Hương quyết thay đổi đường hướng nghệ thuật bằng cách cho trình diễn đủ các loại tuồng như màu sắc, võ hiệp,… để mong giữ được địa vị sẵn có. Đoàn Dạ Lý Hương tuột dốc làm cho tình trạng không sáng sủa của cải lương thêm trầm trọng.

Năm 1971, nghệ sĩ Thanh Tú được ông Bầu Xuân mời ký hợp đồng để về đóng chinh, diễn cặp với nữ nghệ sĩ Phượng Liên thay cho cặp Hùng Cường và Bạch Tuyết rời đoàn để thành lập gánh hát Bạch Tuyết – Hùng Cường.

Nghệ sĩ Thanh Tú và nữ nghệ sĩ Phương Liên đã giữ vững bảng hiệu Dạ Lý Hương và góp phần thực hiện thành công phim ảnh của hãng Dạ Lý Hương trong giai đoạn mà đoàn hát này vừa mất một cặp đào kép ăn khách nhất của đoàn.

Thanh Tú và Phượng Liên đã hát qua các tuồng Bọt biển 3, Người dừng chân đêm mưa, Kẻ sợ tình, Đời là một chữ T, Gái điếm vợ hiền, Người chồng triệu phú, Ông Huyện Đề,…

Năm 1971, chiến tranh diễn biến phức tạp, tình hình sân khấu cải lương tụt dốc thê thảm, trong đó có đoàn Dạ Lý Hương,  đang hoang mang trước nguy cơ rã gánh thì vào một chiều nọ, ngồi uống sinh tố với một số anh em nghệ sĩ tại rạp hát Hào Huê, bất ngờ Minh tinh Điện ảnh Thẩm Thúy Hằng gợi ý với ông bầu Xuân : “Sao anh không chuyển qua làm phim, hổng chừng còn ăn hơn cải lương đó”. Thấy hợp lý, sau đó Bầu Xuân xin giấy phép thành lập Dạ Lý Hương Films và mời đạo diễn Lê Dân thực hiện bộ phim màu Tình Lan và Điệp, với cặp tài tử chính là hai nghệ sĩ cải lương Thanh Nga và Thanh Tú.

Thanh Nga (Lan), Bạch Tuyết (Thúy Liễu), Út Bạch Lan, Kiều Mai Lý (sư cô, sư nữ), Ngọc Giàu (bà Phủ), Thanh Tú (Ðiệp), Dũng Thanh Lâm (Cai Tư), Năm Châu (ông Giáo), Ba Vân (ông Phủ). Các vai phụ khác gồm: Tùng Lâm, Thanh Hoài, Xuân Phát, Minh Ngọc, Bé Bự, Minh Sơn, Tư Rọm, Ánh Việt, Phương Quang, Hải Thần, Hương Duyên, Thanh Hiệp, Kim Toàn, Kim Chi (Vũ đoàn Maxim’s…).

Khán giả đi xem phim này phần lớn là những khán giả yêu thích cải lương, mến mộ nữ nghệ sĩ Thanh Nga.

Cuối năm 1972, điện ảnh Sài Gòn lại chấn động khi lần đầu xuất hiện bộ phim kinh dị Con ma nhà họ Hứa của đạo diễn Lê Hoàng Hoa.

Kịch bản Con ma nhà họ Hứa do soạn giả Năm Châu viết dựa theo câu chuyện Con tinh xuất hiện giữa thủ đô đăng nhiều kỳ trên nhật báo Đông Phương vào năm 1963.

Chỉ trong ngày đầu ra rạp, bộ phim  Con ma nhà họ Hứa (quay phim Diên An) đạt doanh thu kỷ lục 4 triệu rưỡi đồng, qua mặt phim Nhà tôi của hãng Lidac.

Điều đáng nói “con ma” là phim đen trắng, trong khi Nhà tôi của đạo diễn Lê Dân là phim màu.

Đoàn hát Dạ Lý Hương hoạt động cho đến gần cuối năm 1974. Tháng 10 năm 1974, đoàn Dạ Lý Hương diễn vở hát cuối cùng là Người thua cuộc của soạn giả Nguyên Thảo tại rạp Quốc Thanh có mặt nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Đêm ấy đoàn chỉ có 300 khán giả đến xem, Thanh Nga từ chối không lãnh lương. Cô nói vì “khán giả chỉ có 300 người, khán giả ít lắm, nghệ sĩ lãnh lương kỳ quá”… Sau đó đoàn Dạ Lý Hương giải thể sau 12 năm hoạt động.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước nhà thống nhất, ông Bầu Xuân thành lập trở lại đoàn Dạ Lý Hương (Tỉnh Sông Bé), ông và nữ nghệ sỹ Mộng Tuyền lèo lái con thuyền Dạ Lý Hương – Sông Bé.

Đến năm 1978, Bầu Xuân định dàn dựng vở Kiều trên sân khấu của ông và hỏi ý kiến nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu. Ông Năm Châu đã khuyên Bầu Xuân không nên dựng diễn vở Kiều vì sẽ gặp chuyện không may, ông nêu trường hợp Đoàn Ca Kịch Bạch Tuyết – Hùng Cường diễn Kiều rồi liền sau đó đoàn hát này bi rã gánh.

Bầu Xuân có vẻ không tin điều này. Sau này, khi nghệ sĩ Năm Châu qua đời, giữa năm 1978, Bầu Xuân nhờ đạo diễn Hoàng Sa dựng vở Kiều, vai diễn do nữ nghệ sỹ Mộng Tuyền đóng cặp cùng Minh Phụng và diễn tại Miễu Quốc Công (Vĩnh Long) khán giả đầy rạp suốt một tuần lễ. Đến đêm chót tại đây, đoàn phải ngưng vì Bầu Xuân phải đi học tập cải tạo với thời gian 3 năm 9 tháng.

Ngôi chùa nghệ sĩ, nghĩa trang nghệ sĩ cũng là tài sản có phần đóng góp tiền rất lớn của ông Bầu Xuân bên cạnh nghệ sĩ Phùng Há, Bảy Nam, Kim Cương. Ông cũng là người có công lớn trong việc thành lập Hội Ái hữu Tương tế Nghệ sĩ trước 1975.

Từ năm 1998, ông Bầu Xuân về làm quản sự Chùa Nghệ sĩ TP.HCM, giúp nghệ sĩ Phùng Há quản trị chùa và nghĩa trang nghệ sĩ. Ông được nghệ sĩ Phùng Há phó thác việc coi sóc chùa, nghĩa trang, cùng việc làm từ thiện giúp nghệ sĩ nghèo, người nghèo. Ông đã làm theo di nguyện của nghệ sĩ Phùng Há đến hết cuộc đời mình.

Tang lễ ông Bầu Xuân được tổ chức tại tư gia số 20/2A đường Bùi Thị Xuân, phường 3, quận Tân Bình, TP.HCM. Lễ động quan vào sáng ngày 25/6.

Mời các bạn xem kênh youtube:

Thanh Tâm

(có dùng tư liệu của các đồng nghiệp)

Ảnh: Huỳnh Công Minh, Đinh Tiến Mậu, Huỳnh Hòa Bình,Thanh Hiệp